Chủ Nhật, Tháng Mười 2, 2022
Google search engine
HomeĐời SốngHồi ức về Hà Nội

Hồi ức về Hà Nội

“Ngôi nhà bình dân học tập ở Hà Nội”

Tên khai sinh của tôi là Đinh Đông Hà, khi viết văn, tôi lấy tên là Văn Thanh Nhàn. Chúng tôi đang ngồi trước cửa nhà tôi – phố Ô Quan Chưởng – cổng này có tên là Đông Hà Môn, nghĩa là cửa thành Hà Nội nhìn về hướng Đông, nhìn ra sông Hồng. Ông bà sinh ra tôi, đã lấy tên cổng này để đặt tên cho tôi.

Bạn Đang Xem: Hồi ức về Hà Nội

Ông già tôi tên là Đinh Văn Thành, ông là một trong những thành viên của Vụ Hướng dẫn của Bộ Giáo dục tham gia biên soạn bộ sách giáo khoa phổ thông đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau năm 1954, cuốn Đạo đức. Ông còn biên soạn cuốn Truyện cổ tích Tây Nguyên (NXB Nguyễn Du, 1957).

Lối sống của người hà nội

Hà Nội hiện nay đã hoàn toàn trở thành một thành phố thương mại và công nghiệp với dân số đông gấp nhiều lần Hà Nội cũ.

Hà Nội xưa chỉ còn lại trong hồi ức của một số người Hà Nội xưa sống lâu năm ở Hà Nội vẫn cố gắng lưu giữ một chút gì đó của Hà Nội trong lối sống, cách sống, giọng nói, cách nói, tính cách. quan lại yêu đời qua lối ứng xử hài hước, hóm hỉnh… Như ngày xưa Hà Nội điện chập chùng. Người ta nói rằng câu đầu tiên một đứa trẻ học nói là “À, có điện rồi!”, “Ôi mất điện rồi!”.

Hà Nội bây giờ không còn của riêng ai. Hà Nội là tài sản chung và có nhiều “phiên bản” của Hà Nội đối với mỗi người. Phiên bản Hà Nội của dân nhập cư là những người trở về Hà Nội làm ăn, làm việc, thậm chí có những người đến ở một thời gian rồi bỏ đi.

Tôi vừa buồn vừa vui vì điều đó. Mừng cho sự trưởng thành và phát triển của một Hà Nội – thành phố công thương đang dần trở thành một “siêu đô thị” sầm uất. Buồn vì những nếp sống rất “Hà Nội” ngày xưa đang mai một dần, lời ăn tiếng nói, cách cư xử, sinh hoạt, nấu nướng, ăn uống…

Ô Quan Chưởng

Những người sinh sống lâu năm ở Hà Nội, dù sinh ra ở Hà Nội hay ở các tỉnh khác, họ cũng nhập vào mình nếp sống, tâm hồn của con người nơi đây và trở thành người Hà Nội. Trên thực tế, tỷ lệ người Hà Nội gốc đang giảm dần và số lượng người Hà Nội nhập cư tăng dần.

Theo tôi, người Hà Nội chính gốc là người mà gia đình có thể đã sống ở đây ba bốn thế hệ, từ ông bà cha mẹ đến bản thân họ và đã thấm nhuần nếp sống ở đây.

Họ được chia thành hai loại người. Thứ nhất, những người sinh ra trong những ngôi nhà có lối sống phong kiến ​​và Nho giáo vẫn đề cao những quan niệm như “tam tòng, tứ đức” đối với phụ nữ, “tam quốc, ngũ thường” đối với nam giới chẳng hạn. .

Xem Thêm : Những người trẻ chuyên ‘gỡ rối’

Loại thứ hai là những người có con cái học hành và lối sống phương Tây được thực dân Pháp đưa vào Việt Nam từ khoảng năm 1885, họ tạo ra một tầng lớp công chức và thương nhân, thầu khoán. Những người này và con cái của họ có lối sống sành điệu, ăn mặc theo người Pháp, đọc sách báo tiếng Pháp, nói hay “đá” tiếng Pháp vào.

Hai lối sống đó tồn tại song song.

Nhưng có một điểm chung giữa hai lối sống, đó là cách ứng xử kín đáo trong công việc, trong các mối quan hệ, trong việc bày tỏ suy nghĩ, quan điểm của bản thân. Ví như giàu sang thì giàu có, bí mật thì tài năng cũng bí, năng lực cũng bí nhưng không phô trương, phô trương, coi thường kẻ kém cỏi. Sinh hoạt “kín cổng cao tường”, ngoài đường không nói to, ồn ào; Ăn uống nhẹ nhàng, bữa ăn quay mặt vào trong nhà, không quay mặt ra đường.

Trong gia đình tôi có một người bác ở số nhà 12 phố này (Ô Quan Chưởng-nv). Anh là một trí thức của Hà Nội. Anh không giàu có nhưng luôn ăn nói điềm đạm, lịch thiệp trong sinh hoạt, đối nhân xử thế. Phần lớn trí thức và tiểu tư sản cũ vẫn ở lại Hà Nội nhưng không di cư vào Nam năm 1954, họ càng sống khép kín, như một cái bóng của chính mình.

Hà nội ngày nay

Kỷ niệm Hà Nội

Khu vực tôi sinh sống, vẫn giữ lối sống cũ thông qua ẩm thực, nhà hàng chẳng hạn. Cách nhà tôi khoảng 30m có một quán phở lạnh. Đi qua Đào Duy Từ là quán bán bánh nộm. Đây là những món ăn hiện nay ít người chế biến.

Từ đây chỉ cách đê sông Hồng một đoạn ngắn, khoảng vài phút là đến hết cầu Long Biên. Khu vực này vừa “cận thị” vừa “cận giang”. Trước đây, phố này rất vắng, Ô Quan Chưởng cũng là một phố ngắn, chỉ dài 70m. Đang ngồi trong nhà, tôi có thể nghe thấy tiếng bà tôi từ phố Hàng Nâu (nay là Trần Nhật Duật-nv) vọng xuống đầu phố và tiếng chìa khóa của bà kêu leng keng, cạch cạch. Súp. Ngay cả ban ngày, vẫn có thể nghe rõ tiếng guốc của một người phụ nữ phát ra từ bên trong phố Hàng Chiếu.

Hà Nội bây giờ không còn vắng vẻ như xưa mà ồn ào, tấp nập với những âm thanh ồn ào, chen nhau làm mất đi những âm thanh nhẹ nhàng hơn như tiếng guốc, tiếng xào xạc của cành cây nhỏ, thậm chí có cả tiếng thở dài, tiếng ho. của người hàng xóm.

Khoảng ngày 5/8/1964, Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, người Hà Nội liên tục sơ tán. Hà Nội trở nên vắng vẻ, vắng vẻ.

Ngồi lại, cảm thấy rất xúc động về những ngày này. Đó là những tờ giấy dán trước cửa nhà với dòng chữ “Cha mẹ gửi chìa khóa nhà tổ (xóm)” hoặc “gửi ở nhà bác X. để con cháu đi bộ đội vào nhà”. cho công việc. đã nhận được tin nhắn.

Đầu phố Ô Quan Chưởng, có một anh bộ đội được về thăm nhà, đang giúp một chị lấy nước từ chiếc máy nước công cộng bị trúng bom. Máy bay lại thả thêm một đợt bom, anh bị thương nặng và hy sinh. Và cô ấy đã được cứu, vẫn còn sống cho đến ngày nay.

Xem Thêm : Top 25 Phim Đam Mỹ Thái Lan Hay Nhất, Cực Ngọt, Hấp Dẫn Hiện Nay

Cũng có một số điều mà một số người hiểu sai về Hà Nội.

Trong bài hát Đi đến Hà Nộinhạc sĩ Văn Cao đã sử dụng hình ảnh “Năm cửa ải đón quân đến”, thực ra cửa Ô Quan Chưởng không có ý nghênh đón đoàn quân đến. Bài hát này được nhạc sĩ sáng tác vào những năm 1950. -1951. Khi đó, quân giải phóng chưa về tiếp quản thủ đô, trong các đoàn quân tiến về tiếp quản thủ đô ngày 10/10/1954, chưa có một đoàn quân nào lọt qua cửa Ô Quan Chưởng, vì cửa ải này. . không phải là trục giao thông chính để quân ta tiến lên.

Nhạc sĩ Văn Cao sau này tâm sự rằng khi sáng tác bài hát đó, ông chỉ muốn dùng hình ảnh năm ngón tay trên bàn tay như những cánh sen dang rộng chào đón đoàn quân tiến về thủ đô.

Và nếu ai nghĩ rằng Hà Nội thời đó chỉ có 5 cửa ô là Ô Cầu Giấy, Ô Cầu Dền, Ô Chợ Dừa, Ô Đống Mác và Ô Quan Chưởng như bài hát thì quả là sai lầm. Mặc dù các cửa thành (có 16 hoặc 21 cửa qua các thời -nv) đã bị phá hủy, nhưng thời kỳ đó trong lòng người Hà Nội vẫn còn lưu danh hai cửa ô nữa: Ô Yên phụ và Ô Yên phụ. Ô Đồng Lâm (bên hồ Ba Mẫu). Ô Đồng Lầm cũng là một cánh cửa chào đón “đoàn quân sắp đến”.

Tiến sĩ Dân tộc học Mai Thanh Sơn:

“Về khái niệm“ Hà Nội học ”hiện đang được sử dụng trên các phương tiện truyền thông, tôi nghĩ nó là một thuật ngữ báo chí hơn là học thuật và hàn lâm. Bởi vì tôi biết câu chuyện liên quan đến nguồn gốc của khái niệm này. Trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong, đúng như vậy, đề cập đến việc nghiên cứu chuyên sâu về Hà Nội, GS Sử học Trần Quốc Vượng đã gọi nhà giáo Nguyễn Vinh Phúc với danh hiệu “Nhà Hà Nội học”.

Khái niệm “học Hà Nội” được giới truyền thông “xô đẩy” và mặc nhiên chấp nhận. Có lẽ lúc này khái niệm “Hà Nội học” chưa rõ ràng lắm. Vì là ngành khoa học nên phải xác định rõ ít nhất 3 vấn đề liên quan. Đầu tiên là đối tượng nghiên cứu. Thứ hai, là hệ thống lý thuyết, phương pháp luận và công cụ nghiên cứu. Thứ ba, kết quả nghiên cứu phải cụ thể (tính thường xuyên, khả năng ứng dụng trong phát triển, …).

Với “Hà Nội học” – đối tượng nghiên cứu không chỉ là lịch sử, văn hóa mà còn là địa lý, địa mạo, địa chất; Ngoài ra còn có văn học và nghệ thuật liên quan… và có các yếu tố khác, chẳng hạn như kinh tế.

Nhưng ban đầu, về khái niệm “Hà Nội học”, người ta chủ yếu chú ý đến khía cạnh văn hóa lịch sử. Nhà giáo Nguyễn Vinh Phúc là một nhà nghiên cứu có nhiều thành tựu về Hà Nội, nhưng ông chủ yếu chỉ đề cập đến lịch sử và văn hóa của Hà Nội. Nhân dịp Đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, khi mọi người bắt đầu nghiên cứu về Hà Nội nói chung, thì từ đó, khái niệm “Hà Nội học” càng mang tính hàn lâm, học thuật.

Tuy nhiên, về danh xưng, cá nhân tôi cho rằng bất cứ ai có thành tích nghiên cứu về Hà Nội như địa lý, địa chất, địa mạo, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kinh tế Hà Nội … đều có thể được gọi là “nhà Hà Nội” . Bởi vì con người có nghiên cứu, con người có kết quả nghiên cứu và nó được đông đảo công chúng đón nhận và chấp nhận. Mặc dù có thể có tranh cãi trong khoa học hàn lâm – tranh cãi rất phổ biến trong khoa học – họ vẫn có thể được coi là “nhà Hà Nội học”.

Với kiến ​​thức, ký ức và tình yêu Hà Nội của anh Văn Thành Nhân, tôi đánh giá anh xứng đáng với danh hiệu “Nhà văn Hà Nội bình dân”.

Nguyễn quốc (viết)

Nguồn: https://dothi247.net
Danh mục: Đời Sống

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments